Những quan niệm mai táng và linh hồn trong xã hội

quan niệm mai táng cho người mới mất

Quan niệm về linh hồn bất diệt cho rằng, con người chết đi thì linh hồn vẫn tổn tại, vẫn có thể tham dự vào mọi hoạt động của người sống, đem đến phúc họa cho họ… Sự ra đời, diễn biến của tập tục mai táng đều chịu ảnh hưởng của quan niệm này.

 Theo ghi chép trong lịch sử thì Tử Cống từng hỏi Khổng Tử rằng: “Thưa thầy! Con người sau khi chết rốt cuộc có còn trì giác hay không?” Khổng Tử trả lời rằng: “Nếu ta nói người chết vẫn có tri giác thì sợ những đứa con hiếu thảo sẽ dùng mọi cách, dù cách đó có ảnh hưởng xấu tới người sống để mai táng cho người chết. mà nói con người sau khi chết không có tri giác nữa thì lại sợ những đứa con bất hiếu không chịu mai táng cho cha mẹ mình tới nơi tới chốn. Rốt cuộc có tri giác hay không thì sau khi chết trò sẽ biết” (Thuyết uyên). Như vậy, có thể thấy, ngay từ hơn 2.500 năm trước Khổng Tử đã cho rằng, người chết đi cần được mai táng, đó chính là sản phẩm của quan niệm về linh hồn.

Nguồn gốc của linh hồn

Quan niệm về linh hồn bất diệt từ đâu mà nảy sinh? Điều này chỉ có thể dựa trên suy đoán mà không có căn cứ xác thực. Trong xã hội nguyên thủy khi con người nằm mơ thấy người đã chết, họ thấy người kia vẫn đang sống, đang làm việc, vẫn đang dạy dỗ con cái, trò chuyện với người thân, ngỡ rằng chết là linh hồn rời xa xác thịt nhưng linh hồn vẫn còn tổn tại độc lập.

Quan niệm về linh hồn bất diệt từ đâu mà nảy sinh? Điều này chỉ có thể dựa trên suy đoán mà không có căn cứ xác thực. Trong xã hội nguyên thủy khi con người nằm mơ thấy người đã chết, họ thấy người kia vẫn đang sống, đang làm việc, vẫn đang dạy dỗ con cái, trò chuyện với người thân, ngỡ rằng chết là linh hồn rời xa xác thịt nhưng linh hồn vẫn còn tổn tại độc lập.

Quan niệm mai táng của người việt
Quan niệm mai táng của người việt

Lịch sử hình thành quan niệm mai táng

Dân tộc Cảnh Pha, dân tộc Ngõa ở Vân Nam, Trung Quốc cho rằng, linh hồn của con người ngay cả khi con người còn sống đã thường rời xa thân xác, mà những sự vật, sự việc nhìn thấy trong mộng chính là những thứ mà lúc linh hồn đi chu du bốn phương gặp phải, sau khi người ta chết thì mọi linh hồn về cơ bản giống nhau.

Quan niệm này muộn nhất cũng đã xuất hiện ở thời kỳ đồ đá cũ, trải qua hơn 10.000 nắm mà không suy tàn, cũng không vì xã hội phát triển mà mất đi, cũng không vì sự hài hòa đân tộc, sự giao lưu văn hóa mà đi vào quên làng. Sự mãnh liệt của sức sống, sự ảnh hưởng rộng rãi của các quan niệm về tình thần, về linh hồn đối với xã hội loài người có tác dụng hiện thực rộng lớn. Ở đây chỉ để cập đến sự phát triển của tập tục mai táng để chỉ rõ một số quan điểm cụ thể.

Mai táng sinh ra từ quan niệm về linh bổn, lại thúc đẩy quan niệm về linh hồn phát triển hơn. Ở xã hội phương Đông cổ đại, khuynh hướng cơ bản. của quan niệm về linh hồn là tôn trọng người già.

Trong xã hội thị tộc, con người thông qua các nghỉ thức mai táng các thầy pháp khác nhau người ta đã ý thức được rằng, rất nhiều sự việc con người không thể làm được trong xã hội hiện thực thì sau khi chết linh hồn có thể làm được. Một người già ốm. yếu, bệnh tật, lúc còn sống rất khó có thể làm được gì cho thị tộc của mình nhưng sau khi chết lại có thể đem đến họa hoặc phúc cho thị tộc đó, sức mạnh của họ còn lớn hơn cả một thanh niên cường tráng đang sống.

Để tránh linh hồn của người chết báo thù và cầu được phù hộ thì con người nhất định phải đối xử tốt, sống tốt với người đó lúc họ còn sống.

Quan niệm về linh hồn thời bấy giờ có tác dụng hiện thực răn dạy các thành viên biết yêu thương nhau, tôn kính, chăm sóc người già. Ở thời kỳ này, các thành viên trong dòng họ sẽ mai táng cho người chết; người chết được chôn cất. trong khu mộ của đòng họ và hàng năm được cúng giỗ cũng là một sản phẩm của quan niệm về linh hồn.

Sau này, dựa trên cơ sở quan niệm về linh hồn nó phát triển thành văn hóa phương Đông với đặc trưng nổi bật là tôn trọng người già, sùng bái quyền lực, ngưỡng vọng thánh nhân Dưới sự chỉ phối của quan niệm linh hồn, đối với kẻ địch bị giết trong các cuộc chiến tranh thị tộc người ta đã thực hiện các nghi thức chặt chân tay, khoét mắt người chết trước khi đem chôn, hàm ý là phá hủy linh hồn, làm mù mắt kẻ địch để tránh việc báo thù.

Quan niệm mai táng của một số dân tộc

Quan niệm về linh hồn của phương Đông ở mỗi thời kỳ phát triển theo một hướng.

Người Hán ở Trung Quốc thì thường cho rằng, con người chỉ có một linh hồn, khi còn sống gọi là linh hồn, sau khi chết gọi là hồn ma. Linh hồn theo con người, còn hồn ma theo thi thể hoặc ở trong lăng mộ. Rất nhiều các đân tộc ít người cho rằng con người không chỉ có một linh hồn.

Người dân tộc Di khi sống có 3 tên gọi, đại điện cho 3 linh hồn khi chết. Sau khi chết, một linh hồn đi về âm gian, một thì theo vào mộ cùng xương cốt người chết, một thì theo các linh bài (bài vị) mà con cháu thờ cúng. Cả ba linh hồn đều có thể đem lại họa phúc cho người sống; việc sản xuất, sinh hoạt của đời sau đều do họ khống chế.

Người Di lúc gặp phải việc không như ý thì liền gặp thầy pháp để tìm các biện pháp cầu thần, đuổi quỷ.

Người Dao cho rằng, con người sau khi chết đi cũng có 3 linh hồn: Một nằm trong mộ, một nằm trong nhà và một nằm ở Thập bát động ở Dương Châu, nơi sinh ra tổ tiên họ.

Người Xích Triết ở vùng Đông Bắc Trung Quốc cũng cho rằng, con người có 3 linh hồn, hai trong số đó sau khi người chết thì lập tức mất đi, còn một cái nữa là “Ha nê”, có thể sống độc lập ngoài thể xác.

Dân tộc À Xương ở Vân Nam cũng cho rằng, con người có 3 linh hồn, sau khi người chết thì một đi vào âm gian, một nằm ở mộ và một ở trong nhà.

Người A. Xương tin linh hổn tổ tiên trong gia đình có thể đem lại họa phúc cho con cháu. Mỗi gia đình đều có bàn thờ để cúng bái. Họ cho rằng, linh hôn của tổ tiên luôn dõi theo bước chân từng người, nếu cầu khấn bất kính thì sẽ khiến. linh hồn tổ tiên nổi giận và gây ra tai họa cho họ. Người trong nhà bị bệnh, việc chăn nuôi có vấn để, việc trồng trọt không tốt và gặp nhiều chuyện không may thì đều được coi là bị linh hồn tổ tiên giận dữ gây ra, lập tức phải tạ tội, cầu xin tổ tiên, tiếp theo thì phải làm lễ cầu khấn.

   Quan điểm về linh hồn phát triển cực đoan cũng có thể gây ra sự phản ứng nhất định của những người đang sống. Họ thấy rằng, mọi việc nơi trong cuộc sống đều bị các linh hồn khống chế, cảm thấy có một sức mạnh quá lớn chi phối, bản thân họ sẽ khao khát phá vỡ nó. Các nghi lễ tiễn hồn và một số nghi thức mai táng lưu hành trong nhiều dân tộc trên thế giới nhìn ở một góc độ nào đó cũng nói lên nhu cầu này.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *